Trang chủ Phản hồi Ngôn ngữ


 
Công cụ làm việc cá nhân

Đại sứ Phạm Quốc Bảo trả lời phỏng vấn Đài Phát thanh Quốc gia Bulgaria

Giám đốc chương trình “Khristo Botev” Pulina Novakova thực hiện

Đại sứ đặc mệnh toàn quyền CHXHCN Việt Nam tại CH Bun-ga-ri Phạm Quốc Bảo

Câu hỏi 1: Ý nghĩa của Ngày Quốc khánh của nước CHXHCN Việt Nam và nhân dân Việt Nam kỷ niệm ngày này như thế nào? 

Trả lời:

Cách đây 63 năm, ngày 19 tháng 8 năm 1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân Việt Nam đã tiến hành cuộc Cách mạng Tháng 8 thắng lợi, đập tan chế độ quân chủ chuyên chế hàng nghìn năm, và ngày 02-09-1945 tại Quảng trường Ba Đình ở thủ đô Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Tuyên ngôn Độc lập là tác phẩm bất hủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh, kết tinh truyền thống lịch sử kiên cường, bất khuất của dân tộc Việt Nam, là bản anh hùng ca mở ra kỷ nguyên mới của dân tộc Việt Nam - kỷ nguyên độc lập tự do.
Tuyên ngôn Độc lập là văn bản pháp lý quan trọng đầu tiên khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, khẳng định quyền tự do độc lập của nhân dân Việt Nam trước toàn thế giới. Đồng thời khẳng định ý chí và tinh thần dũng cảm, kiên cường, bất khuất của toàn thể dân tộc Việt Nam nhằm bảo vệ quyền độc lập, tự do, dân chủ của mình. Đó là ý chí “không có gì quý hơn độc lập tự do”!
Hàng năm, nhân dân Việt Nam kỷ niệm Ngày Độc lập của mình trong niềm hân hoan, phấn khởi và tự hào.

Câu hỏi 2: Cộng hòa Bulgaria và CHXHCN Việt Nam thiết lập quan hệ ngoại giao từ năm 1950. Từ đó đến nay, những điểm nào là mấu chốt trong việc xây dựng mối quan hệ bền vững và ổn định giữa hai nước?

Trả lời:

Ngày 08-02-1950, Bulgaria là một trong 10 nước đầu tiên công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, điều đó có ý nghĩa quan trọng trong quan hệ hai nước. Gần 59 năm qua, quan hệ hữu nghị truyền thống và hợp tác nhiều mặt giữa hai nước không ngừng được củng cố và phát triển tốt đẹp:
- Nhiều đoàn lãnh đạo cấp cao hai nước đã thăm viếng lẫn nhau, đặc biệt là chuyến thăm chính thức Bulgaria tháng 8-1957 của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đánh dấu mốc quan trọng trong lịch sử của quan hệ hai nước.
- Quan hệ hữu nghị truyền thống và hợp tác kinh tế, thương mại, văn hóa, khoa học, giáo dục không ngừng được củng cố và phát triển.
- Hợp tác trên các diễn đàn quốc tế được tăng cường và mở rộng.

Câu hỏi 3: Trong những năm 70 và 80, theo hiệu lực của Hiệp định hợp tác lao động , đã có nhiều công dân Việt Nam làm việc ở Bulgaria, sự có mặt của họ làm cho văn hóa Việt Nam và Bulgaria gần gũi với nhau hơn. Sau đó, có giai đoạn đại diện thương mại của chúng tôi tại Việt Nam đóng cửa. Hiện nay chúng ta lại khai phá lợi ích chung trong quan hệ văn hóa và thương mại giữa hai nước. Trong điều kiện hợp tác cùng có lợi hiện nay thì những triển vọng mới nào sẽ được mở ra, đặc biệt là khi Bulgaria đã trở thành thành viên EU?

Câu hỏi 4: Trong chuyến thăm chính thức Việt Nam năm 2006 của Thủ tướng Bulgaria Sergei Stanishev, hai bên đã ký Hiệp định Hợp tác Kinh tế, Hiệp định Hợp tác về Du lịch và Chương trình hợp tác trong lĩnh vực Y tế. Những hiệp định này có đạt được kết quả thực sự không và đang tiếp tục thực hiện như nào?

Trả lời:

Trong những năm gần đây, nhiều đoàn cấp Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ và các bộ ngành hai nước thăm viếng lẫn nhau (Thủ tướng, Chủ tịch Quốc hội, Phó Tổng thống, Chủ nhiệm các Ủy ban của Quốc hội, các Bộ trưởng, Thứ trưởng…) nhằm trao đổi kinh nghiệm và hợp tác trên các lĩnh vực lập pháp, giám sát, tư pháp, quản lý hành chính nhà nước, kỹ thuật quốc phòng, an ninh, nội vụ, du lịch, khoa học, công nghệ, năng lượng, văn hóa, giáo dục, y tế, lao động, nông lâm nghiệp và kiểm toán nhà nước… góp phần thực hiện các hiệp định đã ký kết giữa hai Chính phủ.
Trong chuyến thăm chính thức Bulgaria tháng 6-2008 của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng, lần đầu tiên trong lịch sử quan hệ của Quốc hội hai nước đã thông qua Tuyên bố chung về hợp tác giữa hai cơ quan lập pháp, thể hiện Quốc hội hai nước rất coi trọng quan hệ truyền thống và quyết tâm cùng nhau thúc đẩy sự hợp tác hữu nghị lên một tầm cao mới. Trên tinh thần đó, cơ quan lập pháp hai nước tăng cường các hoạt động nhằm thúc đẩy việc thực hiện các hiệp định và thỏa thuận đã được Chính phủ hai nước ký kết.
Việt Nam luôn coi trọng việc củng cố và phát triển quan hệ hữu nghị, hợp tác truyền thống với Bulgaria. Quá trình hội nhập và phát triển của mỗi nước đang mở ra nhiều cơ hội mới cho cộng đồng doanh nghiệp hai nước, không chỉ nhằm đáp ứng nhu cầu của mỗi nước, mà còn hướng tới các thị trường khu vực. Việt Nam là cầu nối để hàng hóa Bulgaria tới các nước ASEAN và Bulgaria là cầu nối có nhiều lợi thế để hàng hóa Việt Nam tới thị trường EU. Hai nước có những tiềm năng, lợi thế có thể bổ sung cho nhau mang lại hiệu quả lớn. 

Câu hỏi 5: Những lĩnh vực nào khác có triển vọng mở rộng hợp tác giữa hai nước chúng ta?

Trả lời:

Bulgaria có nhiều tiềm năng hợp tác với Việt Nam về chuyển giao công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực. Bulgaria đã gia nhập EU và cam kết sẵn sàng hỗ trợ Việt Nam trong việc phát triển quan hệ toàn diện với EU, một khu vực có nền kinh tế phát triển cao, có thể đáp ứng các yêu cầu nhập khẩu thiết bị công nghệ nguồn và nguyên liệu cho nhiều ngành công nghiệp, phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Việt Nam.
Việc mở rộng và đa dạng hóa hợp tác kinh tế, thương mại đóng vai trò quan trọng trong quan hệ song phương, nhất là các lĩnh vực cùng quan tâm. Thông qua cơ chế hợp tác như Ủy ban Liên Chính phủ về hợp tác Kinh tế, thương mại, văn hóa, khoa học và công nghệ (khóa họp lần thứ 21 của Ủy ban sẽ diễn ra ở Hà Nội vào tháng 11 năm nay) góp phần mở rộng quan hệ hợp tác giữa hai nước.

Câu hỏi 6: Ai là những nhà đầu tư lớn tại Việt Nam?

Trả lời:

Việt Nam đã chuyển mạnh sang nền kinh tế thị trường và hội nhập có hiệu quả với nền kinh tế thế giới. Việt Nam hiện có quan hệ kinh tế - thương mại với hơn 220 quốc gia và nền kinh tế, kim ngạch xuất khẩu tăng 20%/năm liên tục trong nhiều năm qua, riêng năm 2007 đạt gần 50 tỷ USD.
Hiện nay đã có hơn 80 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam với 9.500 dự án và tổng số vốn đăng ký trên 100 tỷ USD. Số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam không ngừng tăng (21, 5 tỷ USD năm 2007 và 45,28 tỷ USD trong 7 tháng đầu năm 2008). 
Đối với nguồn vốn ODA, Việt Nam hiện có trên 50 nhà tài trợ song phương và đa phương đang hoạt động. Tổng giá trị ODA cam kết của các nhà tài trợ cho Việt Nam trong thời kỳ 1993-2007 đạt trên 42 tỷ USD, riêng năm 2007 đạt con số kỷ lục trên 5,4 tỷ USD, thể hiện sự ủng hộ mạnh mẽ của cộng đồng quốc tế đối với Việt Nam, coi Việt Nam là địa chỉ đầu tư đáng tin cậy.
Đài Loan đứng đầu trong số 35 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam (112 dự án, vốn 8,6 tỷ USD, chiếm 18,6% tổng vốn đăng ký).
Nhật Bản (78 dự án, vốn 7,2 tỷ USD, chiếm 16,2%),
Malaysia 5,07 tỷ USD,
Brunei 4,3 tỷ USD,
Canada 4,2 tỷ USD  
Tổng vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đăng ký vào Việt Nam trong 7 tháng đầu năm đã đạt  45,28 tỷ USD, vượt 21,3 tỷ USD vốn FDI đăng ký của cả năm 2007, cũng như tăng gấp 4 lần so với cùng kỳ năm 2007. Trong đó đã có 654 dự án được cấp giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn đầu tư đăng ký là 44,49 tỷ USD. Có 188 lượt dự án tăng vốn đầu tư mở rộng sản xuất với tổng vốn đầu tư đăng ký tăng thêm là 788,6 triệu USD.
Trong 7 tháng qua, Đài Loan tiếp tục đứng đầu trong số 35 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam với 82 dự án, vốn đầu tư 8,4 tỷ USD, chiếm 18,9% tổng vốn đăng ký. Tiếp đến là Nhật Bản với 65 dự án, vốn đầu tư 7,2 tỷ USD, chiếm 16,2; Malaysia có 28 dự án, vốn đầu tư 5,07 tỷ USD; Brunei có 14 dự án, vốn đầu tư 4,3 tỷ USD; Canada có 4 dự án, vốn đầu tư 4,2 tỷ USD.

Câu hỏi 7: Các chuyên gia gọi nhịp độ phát triển của đất nước Ngài là “bùng nổ kinh tế”. Vì vậy bí mật của sự thành công của nền kinh tế Việt Nam là gì? Sự thành công này tác động như thế nào tới cuộc sống của những người dân bình thường ở Việt Nam?

Trả lời:

Các nhà đầu tư nước ngoài coi Việt Nam là điểm đến hấp dẫn vì tình hình chính trị- xã hội ổn định, kinh tế phát triển năng động, đạt mức tăng trưởng cao liên tục trong nhiều năm (GDP tăng 7- 8%/năm, liên tục trong 22 năm qua), có nguồn nhân lực dồi dào và rất trẻ, 70% dân số dưới 40 tuổi, thị trường lớn với hơn 86 triệu dân, có chính sách thông thoáng và dành nhiều ưu đãi cho các nhà đầu tư nước ngoài... Những yếu tố cơ bản này vẫn được giữ vững, Chính phủ Việt Nam đang tiếp tục các nỗ lực để làm cho môi trường đầu tư kinh doanh Việt Nam ngày càng hấp dẫn, thông thoáng và minh bạch hơn. Thực tế cho thấy các nhà đầu tư nước ngoài vẫn đánh giá tích cực về triển vọng phát triển về trung hạn và dài hạn của Việt Nam. Đầu tư trực tiếp nước ngoài trong 5 tháng đầu 2008 tiếp tục tăng với tổng vốn đăng ký đạt 15,3 tỷ USD, tăng 134,1% so với 5 tháng đầu năm 2007 và dự kiến sẽ đạt trên 22 tỉ USD trong 6 tháng đầu năm 2008.

Câu hỏi 8: Năm nay, thế giới kỷ niệm 40 năm từ năm 1968 là năm đã xảy ra rất nhiều biến đổi trên thế giới, mà trong đó cuộc kháng chiến chống chiến tranh ở Việt Nam là một bộ phận trong các sự kiện đó mà đã làm cho năm 1968 trở thành biểu tượng của những biến đổi xảy ra trên thế giới.

Trả lời:

Năm 1968 đã ghi vào trang sử hào hùng của Việt Nam và thế giới. Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 của quân và dân miền Nam Việt Nam luôn sáng chói trong biên niên sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam, một cái mốc chiến lược quan trọng đã làm thay đổi cục diện chiến tranh ở miền Nam, tạo thế chiến lược mới và tiền đề vững chắc để đưa cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc đến thắng lợi hoàn toàn vào mùa xuân năm 1975. Năm 1968 tôi cũng có mặt ở chiến trường miền Nam. 40 năm qua, biết bao sự kiện đã xảy ra ở Việt Nam và thế giới. Sau hơn 20 năm đổi mới, Việt Nam đã giành được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử, kinh tế phát triển với tốc cao

Câu hỏi 9: Những đổi mới trong nước đã làm thay đổi quan hệ giữa Việt Nam và thế giới như thế nào (năm 1995, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với Mỹ và hiện nay, Mỹ là thị trường tiêu thụ hàng hóa lớn nhất của Việt Nam. Việt Nam đã là thành viên WTO và ngày càng trở thành thành viên hoạt động tích cực hơn trong nền kinh tế quốc tế, Việt Nam cũng là thành viên không thường trực của Hội đồng Bảo an LHQ. Vậy những nỗ lực của Việt Nam tham gia trên trường quốc tế như thế nào?

Trả lời:

- Công cuộc đổi mới trong hơn 20 năm qua ở Việt Nam (bắt đầu từ năm 1986) đã đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử, làm thay đổi rõ rệt bộ mặt của đất nước, cải thiện đáng kể đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Được dư luận thế giới thừa nhận và đánh giá cao. Những thành tựu đó là:
+ Tốc độ tăng  trưởng kinh tế khá nhanh. GDP bình quân hàng năm là 7,5%. Riêng năm 2007 GDP tăng 8,5 %;
+ Chính trị - xã hội ổn định, quốc phòng và an ninh được giữ vững;
+ Quan hệ đối ngoại được mở rộng, vị thế của Việt Nam ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế.
- Trải qua bao thăng trầm của lịch sử. Ngày 11-07-1995 Việt Nam và Mỹ thiết lập quan hệ Ngoại giao và phía Mỹ đã cử ông P. Peterson, cựu phi công Mỹ bị bắn rơi trong chiến tranh phá hoại miền Bắc Việt Nam làm Đại sứ đầu tiên ở Việt Nam.
Trong 13 năm qua, đã có nhiều cuộc gặp gỡ cấp cao giữa hai nước. Tổng thống B. Clinton (năm 2000) và Tổng thống G. Bush (năm 2006) đã thăm chính thức Việt Nam. Trong chuyến thăm này, Tổng thống G. Bush đã ký Tuyên bố chung và dự Hội nghị cấp cao Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á Thái Bình Dương (APEC-14) tại Hà Nội. Thủ tướng Phan Văn Khải (năm 2005), Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết (năm 2007) và Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng (2008) đã thăm chính thức Mỹ. Các chuyến thăm này có ý nghĩa rất to lớn, tạo cơ sở cho việc xây dựng mối quan hệ ổn định, vững chắc và lâu dàì, đồng thời mở ra nhiều triển vọng trong quan hệ kinh tế thương mại giữa hai nước. Hai bên đã ký Hiệp định khung về thương mại và đầu tư, cùng với các hợp đồng kinh tế trị giá nhiều tỷ USD. 
Hiện nay, Mỹ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam. Kim ngạch buôn bán hai chiều năm 2007 đạt trên 12 tỷ USD, tăng 34% so với năm 2006; đứng thứ ba trong số trên 220 nước và vùng lãnh thổ có quan hệ thương mại với Việt Nam; Hoa Kỳ đã có gần 400 dự án đầu tư trực tiếp đang hoạt động ở Việt Nam với số vốn trên 4 tỷ USD, nếu tính cả đầu tư của doanh nghiệp Hoa Kỳ qua nước thứ ba, tổng số vốn lên đến 7,6 tỷ USD, đứng thứ 6 trong số trên 80 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam. Hợp tác trên các lĩnh vực khác, từ y tế - nhân đạo đến an ninh cũng có những tiến triển tích cực. 
- Việt Nam có quan hệ tốt đẹp với tất cả các nước và có quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư với hơn 220 quốc gia và nền kinh tế, là thành viên tích cực của Liên hợp quốc, ASEAN, ASEM, APEC và nhiều tổ chức, diễn đàn quốc tế khác. Việt Nam đã trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), đang tích cực phát huy vai trò Uỷ viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc và đã làm tốt vai trò Chủ tịch Hội đồng Bảo an tháng 7/2008.

Câu hỏi 10: Việc kinh doanh chung phụ thuộc vào sự hiểu biết của một nền văn hóa xa lạ tới mức nào và giữa hai nước chúng ta có điểm giao thoa nào không khi với cách nhìn nhận đầu tiên thì hai nền văn hóa quá xa cách nhau?

Trả lời:

Quan hệ truyền thống tốt đẹp và sự tương đồng về lịch sử đã gắn kết Việt Nam với Bulgaria trong sự đồng cảm và chia sẻ lẫn nhau, nhất là trong điều kiện cả hai bên đang nỗ lực tiến hành chuyển đổi nền kinh tế, tích cực hội nhập khu vực và quốc tế. Sự xa cách về địa lý không còn là vấn đề trở ngại đối với các doanh nghiệp, mà ngược lại, chính điều này đã góp phần làm nên những lợi thế so sánh giữa hai khu vực.
Việt Nam nằm ở Đông Nam Á, Bulgaria nằm ở Đông Nam Âu, hai nước đều có vị trí địa – chính trị quan trọng và coi nhau như cửa ngõ để tăng cường trao đổi thương mại, từ Bulgaria để thâm nhập vào thị trường Đông Nam Âu và từ Việt Nam để thâm nhập vào thị trường Đông Nam Á. Hai nước đều là thành viên WTO và ASEM, Bulgaria là thành viên EU, Việt Nam là thành viên Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á - ASEAN, Việt Nam và EU đã thiết lập quan hệ hợp tác, hiện hai bên đang chuẩn bị đàm phán về Hiệp định Đối tác và Hợp tác (PCA). Điều đó sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hai nước mở rộng quan hệ hợp tác song phương và đa phương trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, thương mại, văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ và du lịch v.v.
Năm 2007, kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam và EU đạt 14,3 tỷ USD, tăng 39,26% so với năm 2006, trong đó xuất khẩu đạt 9,1 tỷ USD, tăng 28,2% và nhập khẩu đạt 5,14 tỷ USD, tăng 64,3%.
Trong mấy năm gần đây, kim ngạch trao đổi thương mại giữa Việt Nam và Bulgaria đã tăng lên nhanh chóng, năm 2006 chỉ đạt 18,8 triệu USD. Ngay sau khi Bungari là thành viên chính thức EU, kim ngạch trao đổi mậu dịch hai chiều năm 2007 đạt 51 triệu USD, tăng hơn 2,5 lần so với cùng kỳ năm 2006 và 6 tháng đầu năm 2008 ước đạt 36,5 triệu USD, tăng 39,5 % so với cùng kỳ năm ngoái.

Câu hỏi 11: Ngài thích đến nơi nào và thích món ăn nào của Bulgaria?

Trả lời:

Ở Bulgaria có nhiều di tích lịch sử văn hóa lâu đời và danh lam thắng cảnh nổi tiếng, đặc biệt là 100 địa danh du lịch quốc gia, trong đó có 9 Di sản Văn hóa và Thiên nhiên Thế giới. Tôi đã có dịp đến thăm một số di tích lịch sử, văn hóa và khu bảo tồn thiên nhiên như núi Pirin, Rila, Vitosha và Rhodope, thăm Veliko Tarnovo và thung lũng hoa hồng, bờ biển Varna và Bourgas…
Ở Bulgaria có nhiều món ăn truyền thống, ngon và hấp dẫn, đặc biệt là món thịt cừu nướng, rượu vang đỏ và các sản phẩm chế biến từ sữa.

Câu hỏi 12: Khi dịch ra tiếng Việt, có phải tên của nước “Bulgaria” bao gồm một phần tên riêng của Ngài là Bảo hay không?

Trả lời:

Theo từ điển Nga-Việt, Nhà xuất bản “Tiếng Nga”, Maxcơva năm 1977, trang 70, cột 2, dòng 5 từ dưới lên có ghi: Bolgarski - Bun-ga-ri; Bảo-gia-lợi, Bảo. Người Việt trước đây thường gọi Bulgaria là Bảo. Bảo là báu, quý. Quốc Bảo là Quốc báu, báu vật của quốc gia…
Xin chúc các bạn thính giả của Đài Phát thanh Quốc gia Bulgaria nói chung và của Chương trình “Khristo Botev” nói riêng mạnh khỏe, hạnh phúc và thành đạt!
Chúc quan hệ hữu nghị truyền thống và hợp tác mọi mặt giữa nhân dân hai nước Việt Nam và Bulgaria không ngừng được củng cố và phát triển tốt đẹp!

Tạo bởi vubaochi
Cập nhật 03-09-2008

Copyright by VietNam Ministry of Foreign Affairs